Thứ Ba, Tháng 3 24, 2026

Nhân văn số lên ngôi, sinh viên không chỉ học tiếng mà học tư duy

Đời sốngViệc làm - Đào tạoNhân văn số lên ngôi, sinh viên không chỉ học tiếng mà...
A.I
(SGTT) - Đào tạo tiếng Anh và các ngành nhân văn tại các đại học Việt Nam đang bắt kịp trào lưu “nhân văn số” trên thế giới. Sinh viên không chỉ đơn thuần “học tiếng” mà “học tư duy”, tập trung vào kỹ năng liên ngành, tư duy phản biện và khả năng kiểm chứng nội dung do AI tạo ra.

Thị trường việc làm đang có chuyển biến. Hiện doanh nghiệp Việt nay không chỉ săn đón các kỹ sư AI mà còn “khát” ứng viên ngành nhân văn am hiểu công nghệ.

Mối quan hệ “cộng sinh”

Số lượng đăng ký ngành học tiếng Anh, các ngôn ngữ khác tại các trường đại học lớn ở Việt Nam vẫn gia tăng. Điểm chuẩn đầu vào ở mức rất cao, thường trên 27 điểm. Tuy vậy, nội dung đào tạo đã được thay đổi. Sinh viên ngành ngôn ngữ hiện được khuyến khích học cách viết “prompt” (câu lệnh), sử dụng mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) để tối ưu hóa hiệu suất.

Từ năm 2025-2026, Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) đã chính thức đưa môn “nhập môn công nghệ số và ứng dụng AI” thành học phần bắt buộc cho tất cả các ngành, gồm cả khối nhân văn. Tại các hội nghị giáo dục đại học, ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó giám đốc VNU, nhấn mạnh mục tiêu trang bị “năng lực số” cho sinh viên ngành ngôn ngữ. Họ không học để cạnh tranh trở thành “máy dịch” như AI, mà học để trở thành người kiểm chứng và điều phối nội dung do AI tạo ra.

Đại học Fulbright Việt Nam cùng hợp tác với Đại học Columbia, Mỹ trong một dự án. Ngành “nhân văn số” đang là hướng mới, kết hợp hay giao thoa giữa các ngành nhân văn như ngôn ngữ, văn học hay kiến trúc..., với công nghệ và AI. Ảnh: FUV

Quan điểm “AI là công cụ, con người là linh hồn” đã trở thành kim chỉ nam cho đào tạo thế hệ cử nhân mới tại các trường đại học ở Việt Nam. AI được xem là công cụ xử lý khối lượng lớn dữ liệu và các tác vụ lặp đi lặp lại. Người thực hiện giữ vai trò “linh hồn” - thực hiện các phân tích phản biện, thấu cảm và sáng tạo dựa trên các nền tảng đạo đức. Sự giao thoa liên ngành này được gọi là “nhân văn số” (digital humanities).

Không phải là “kẻ hủy diệt” hay “kẻ cướp”

AI không hủy diệt các ngành nhân văn, cũng như “cướp” công việc của con người. Khảo sát trên Harvard Business Review cho thấy một thực tế bất ngờ: phần lớn các doanh nghiệp hiện nay đang cắt giảm nhân sự không phải vì bị AI thay thế, mà vì nỗi lo sợ mơ hồ về khả năng của nó trong tương lai. Phần lớn là động thái “đón đầu” của doanh nghiệp, với 60% số doanh nghiệp thừa nhận sa thải nhân viên chỉ để chuẩn bị trước cho tác động của AI, thay vì phản ứng với kết quả thực tế. Chỉ có 2% số doanh nghiệp thực sự cắt giảm nhân sự sau khi đã đưa AI vào vận hành hiệu quả.

Khảo sát của Microsoft và LinkedIn năm 2024 cho thấy 76% số doanh nghiệp xem AI là kỹ năng trước hết trong tuyển dụng, cao hơn mức trung bình 66% của thế giới. Có đến 93-94% nhân viên văn phòng Việt Nam bắt đầu ngày làm việc mới với các công cụ AI, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ trung bình 88% của thế giới. Người lao động nói các công cụ AI giúp nâng cao hiệu quả công việc, giúp có nhiều thời gian hơn tập trung vào các công việc sáng tạo. Theo báo cáo của JobsGO công bố đầu năm 2025, nhu cầu tuyển dụng nhân sự biết dùng AI tại Việt Nam tăng 48%, với mức từ 30-40% hoặc hơn so với các nhân sự không có kỹ năng AI.

Thách thức mới của người dạy và người học tiếng Anh

Sự xuất hiện của AI đã tạo ra những thay đổi trên thị trường việc làm, và hệ quả là tạo áp lực lớn ngược trở lại với nhà trường. Đầu tiên là người dạy.

Tại hội nghị giảng dạy tiếng Anh do Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức tại TPHCM hồi tháng 7-2025, các diễn giả đã khẳng định: “việc lạm dụng công nghệ và AI không tự động cải thiện năng lực ngoại ngữ”.

Một buổi học tại trung tâm đào tạo Anh ngữ Axcela. Startup này kết hợp công nghệ và các phương pháp giảng dạy mới nhằm đáp ứng nhu cầu học của người đi làm và doanh nghiệp. Ảnh: Axcela

Tiến sĩ Willy A. Renandya thuộc Viện Giáo dục quốc gia Singapore đã dẫn hai công trình nghiên cứu ở Canada và Mỹ cho thấy công nghệ hiện tại mang lại “rất nhỏ”, chủ yếu chỉ hỗ trợ mảng phát âm nhờ các phần mềm nhận diện giọng nói. Phần phát âm cải thiện, nhưng thông thạo một ngoại ngữ là sự hài hòa tổng thể các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và tương tác - vốn là các kỹ năng mềm quan trọng.

Đó là thực trạng “bình mới rượu cũ” phổ biến hiện nay khi công cụ hiện đại thay thế công cụ truyền thống (như dùng máy chiếu thay bảng đen hay Google Form thay giấy) mà không hề thay đổi cốt lõi phương pháp sư phạm. Ông đề nghị giáo viên cần có ưu tiên lựa chọn nền tảng giảng dạy, kết hợp “cá nhân hóa” hay “nhóm hóa” nhằm tạo động lực học tập cho sinh viên.

Trong bối cảnh “ngày nào cũng xuất hiện các công cụ AI mới”, Tiến sĩ Renandya nói rằng giáo viên và học viên không cần phải sử dụng thông thạo tất cả, mà chỉ nên chọn ra công cụ cảm thấy thích hợp, hiệu quả để “đừng cảm thấy quá tải”.

Các khóa học AI đang phổ biến ở bậc phổ thông tại các trường ở Bắc Kinh và các thành phố lớn Trung Quốc trong năm 2025. Tuy vậy, Tiến sĩ Cao Xiuling thuộc Đại học Sư phạm Thượng Hải tin rằng thực chất AI là một “con dao hai lưỡi”. Dù các công cụ như DeepSeek hay Doubao giúp nâng cao hiệu quả giáo dục, chúng cũng tạo ra nhiều thách thức mới về đạo đức, bảo mật dữ liệu và tư duy sáng tạo.

“Thiên kiến AI”

Tình trạng thiên kiến của AI cũng đáng lo ngại. Năm 2024, khi khảo sát 13.000 bài luận của học sinh gốc Á ở Mỹ từ lớp 8 đến lớp 12, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng các công cụ chấm điểm AI “có định kiến”, trừ điểm bài luận của học sinh gốc Á nhiều hơn 0,1-0,2 điểm (trên thang điểm 6) so với học sinh da trắng cùng cấp lớp. Khác với đánh giá của các giám khảo con người, AI thường xuyên nhầm lẫn phong cách viết của học sinh gốc Á với văn phong AI và trừ điểm mạnh tay(1).

Một khảo sát tương tự đăng trên MDPI (Multidisciplinary Digital Publishing Institute) - tạp chí khoa học nguồn mở có uy tín đặt tại Thụy Sỹ, cũng nhấn mạnh rằng: AI vô tình khuếch đại sự bất bình đẳng, hạ thấp điểm của người học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai (ESL) bởi chất lượng hay gốc gác của dữ liệu đầu vào(2).

Ngoài thiên kiến, hầu hết các công cụ AI của nước ngoài hiện “làm việc” bằng tiếng Anh tốt hơn, các bản tiếng Việt thường mắc lỗi chính tả và phông chữ. Điều này, vô hình trung, tạo ra nhiều cơ hội cho các startup ở Việt Nam “bản địa hóa” hay “Việt hóa” các phiên bản nước ngoài. Hoặc tốt hơn nữa là “tạo ra một sản phẩm công nghệ mới thuần Việt”, như lời của CEO Lữ Minh Trí của startup công nghệ Hyper One Co. Ltd. tại TPHCM.

Còn Axcela - startup đào tạo tiếng Anh theo chuẩn CEFR (Khung tham chiếu năng lực ngôn ngữ chung châu Âu) đang ứng dụng công nghệ để tối ưu hóa lộ trình học cho người đang đi làm và doanh nghiệp. Nhà sáng lập kiêm CEO Võ Hoàng Nam nói Axcela sử dụng nền tảng giáo dục DynEd của Mỹ để thiết kế các bài học có tính tương tác cao, giúp học viên dễ ghi nhớ và phản xạ. Startup sử dụng AI để phân tích bốn kỹ năng của học viên và xây dựng ứng dụng riêng để cá nhân hóa lộ trình học, tập trung vào kiến thức cụ thể của từng nhân viên hoặc theo yêu cầu của doanh nghiệp. Khách hàng của Axcela gồm nhiều tên tuổi lớn như Microsoft, Intel, VNG và Gameloft…

Rồi lại truân chuyên “ba chìm bảy nổi”?

Tiếng Anh trải qua giai đoạn thịnh rồi suy, và nay có xu hướng hồi phục giữa thời AI. Nhưng rồi có lặp lại cái vòng truân chuyên ấy “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh”? AI xuất hiện đã buộc doanh nghiệp và nhà trường phải “bẻ lái”.

Không còn chỉ dạy từ vựng và ngữ pháp đơn thuần, các trường đang chuyển hướng sang đào tạo liên ngành (kết hợp ngôn ngữ với thương mại, truyền thông, nhân sự...), dạy sinh viên tư duy phản biện, kỹ năng đàm phán và đặc biệt là dạy cách ứng dụng AI vào công việc để làm chủ công nghệ. Trong khi đó, doanh nghiệp không còn cần lắm những “cỗ máy dịch thuật chạy bằng cơm” cứng nhắc, mà khao khát các ứng viên có những kỹ năng mà AI không thể thay thế. Đó là sự am hiểu văn hóa, giao tiếp có cảm xúc, tư duy linh hoạt và xử lý tình huống phức tạp…

“Nhân văn số”, mở rộng hơn, không chỉ đóng khung trong con chữ và nền tảng số.

Trong một lần trò chuyện với Kinh tế Sài Gòn, Tiến sĩ Phạm Nguyễn Anh Huy, giảng viên tài chính thuộc Đại học RMIT Việt Nam, tiết lộ một công trình khá thú vị tại đại học này. Ông đang hướng dẫn một học viên tiến sĩ người Việt về phân tích ngôn ngữ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Thay vì đọc thủ công, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng AI và thuật toán phân tích xác suất từ ngữ (Naïve Bayesian) để phân loại và định lượng ý nghĩa của văn bản báo cáo. Từ đó, có thể “đọc vị” sức khỏe doanh nghiệp thông qua cách trình bày văn bản, thay vì chỉ nhìn vào các con số.

(1) https://hechingerreport.org/proof-points-asian-american-ai-bias/

(2) https://www.mdpi.com/2073-431X/14/3/100

Hồ Nguyên Thảo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Cùng chủ đề

Cùng chuyên mục